Hiển thị các bài đăng có nhãn bao hiem viet nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bao hiem viet nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Các công ty bảo hiểm nên học ngân hàng


Mô hình cơ cấu tổ chức trụ sở chính – chi nhánh đang là mô hình phổ biến tại các công ty bao hiem Việt Nam. Mô hình này các ngân hàng đã bỏ từ lâu.

Các công ty bao hiem nên học ngân hàng

Trong mô hình cơ cấu tổ chức này, thông thường, việc phân quyền giữa chi nhánh và trụ sở chính thường được hiểu là trụ sở chính sẽ là nơi nắm quyền lực. Nhưng trên thực tế, tại nhiều công ty bảo hiểm Việt Nam, trụ sở chính và chi nhánh, ai sẽ nắm quyền nhiều hơn?!

“Thực tế, chi nhánh mới là nơi quản lý nhân sự, sản phẩm… thực sự. Ở nhiều công ty, mỗi chi nhánh hoạt động độc lập như một công ty riêng”, ông Prajeesh Mukudan, Giám đốc bộ phận tư vấn bao hiem của EY nhận xét.
bao hiem
Việc để cho chi nhánh chủ động trong mọi vấn đề có thể đẩy công ty bao hiem vào nhiều rủi ro        
Với nhiều công ty bao hiem, giám đốc chi nhánh có chức năng, nhiệm vụ như một giám đốc điều hành nhỏ, có nhóm khách hàng, có chiến lược kinh doanh cũng như chiến lược về chi phí riêng.

Họ được giao các chỉ tiêu kinh doanh từ trụ sở chính, tuy nhiên trong quá trình thực hiện, chi nhánh được chủ động trong mọi vấn đề, miễn sao đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu được giao.

Tất nhiên, chi nhánh cũng có một số nghĩa vụ với trụ sở chính, như nộp báo cáo định kỳ, tuân thủ một số quy định…

Theo đánh giá của một số chuyên gia, mô hình cơ cấu quản lý trụ sở chính – chi nhánh có thể phù hợp với các doanh nghiệp ở một quy mô nhất định, nhưng trong bối cảnh kinh doanh hiện nay, cần phải cân nhắc khi áp dụng mô hình quản lý này.

Bởi việc giao chỉ tiêu và để cho chi nhánh gần như toàn quyền lựa chọn cách thức để hoàn thành mục tiêu có thể đẩy công ty bao hiem vào nhiều rủi ro. Hơn nữa, ngoài yếu tố doanh thu và lợi nhuận, công ty bao hiem còn phải xem xét để xây dựng thương hiệu, hình ảnh cho riêng mình. Và quan trọng hơn cả là việc phải tuân thủ các quy định của pháp luật.

Đây là thách thức không nhỏ đối với các công ty bao hiem quản lý theo mô hình trụ sở chính – chi nhánh.

Nhìn sang một lĩnh vực tài chính khác – ngân hàng, tại Việt Nam, ngành ngân hàng đã sớm nhận thức những hạn chế của mô hình trụ sở chính – chi nhánh và lựa chọn cách thức quản lý theo khối nghiệp vụ. Theo đó, trụ sở chính hình thành bộ máy để quản lý toàn bộ các vấn đề về phát triển thương hiệu, phát triển sản phẩm, chính sách bán hàng, hậu mãi…

Các chi nhánh chỉ còn tồn tại như những đại lý bán hàng. Đến nay, về cơ bản hầu hết ngân hàng đều sử dụng mô hình cơ cấu tổ chức này.

Với ngành bao hiem, bước chuyển biến về cơ cấu tổ chức dường như còn rất chậm, dù rằng ngành bao hiem đã có Đề án tái cấu trúc và một số công ty đã thuộc diện buộc phải có phương án tái cấu trúc.

Tại hội thảo “Phát triển bền vững – Lựa chọn nào cho doanh nghiệp bao hiem” do Cục Quản lý giám sát bao hiem và EY Việt Nam tổ chức vừa qua, nhiều chuyên gia đã nhấn mạnh vai trò quan trọng trong việc xác định một mô hình cơ cấu tổ chức phù hợp với mục tiêu phát triển của doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức là yếu tố then chốt tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Tuy nhiên, cũng chia sẻ tại hội thảo, không ít công ty bao hiem vẫn còn e ngại về tác động trái chiều khi doanh nghiệp đột nhiên thay đổi toàn bộ phương thức quản lý, hoạt động.

“Không nên nhìn nhận tái cấu trúc như một cuộc đảo chính, tái cấu trúc không phải là đột nhiên thay đổi toàn bộ, mà các dự án tái cấu trúc có thể có quy mô và ảnh hưởng khác nhau.

Khi bắt đầu, dự án tái cấu trúc có thể chỉ ảnh hưởng một số quy trình, môt số bộ phận, nhân sự nhất định. Nhưng thông qua sự thay đổi này, nó sẽ có tác động đến phần còn lại của hệ thống”, ông Prajeesh Mukudan, một chuyên gia của EY lưu ý và dẫn ra một trường hợp EY đã tư vấn thành công tái cấu trúc mô hình tổ chức cho một hãng bao hiem nhân thọ tại Ấn Độ, khi sau 6 tháng tiến hành dự án, chi phí bồi thường xe cơ giới của hãng này đã giảm 12%.

“Tái cơ cấu có thể tiến hành từng bước một tùy thuộc vào nguồn lực mà công ty đang có, nói cách khác, các công ty có thể tiến hành những thay đổi nhỏ một cách khoa học và quan sát lợi ích mà thay đổi này mang lại để rồi tiến hành những thay đổi lớn hơn”, ông Saman Bandara, Phó tổng giám đốc phụ trách lĩnh vực bao hiem và dịch vụ kế toán pháp lý của EY Vietnam nói.

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Tổng quan thị trường bảo hiểm Việt Nam quý III/2013

Tình hình chung

Tình hình kinh tế bảo hiểm Việt Nam trong 9 tháng 2013 nhìn chung có chuyển biến tích cực. Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm tăng 5,14% cao hơn cùng kỳ năm ngoái. Nguồn vốn FDI khả quan và cơ cấu vốn tích cực. Tính đến tháng 10/2013, FDI thu hút đạt trên 19 tỷ USD, tăng 65,6%, vốn FDI thực hiện đạt 9,58 tỷ USD, tăng 6,4%.

Lĩnh vực sản xuất công nghiệp, chế biến chế tạo, thiết bị điện tử vẫn là các lĩnh vực hấp dẫn nhất, trong 9 tháng chiếm 86,4% tổng vốn cấp mới & tăng thêm. Xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng khá (tăng 15,2%), nhập siêu ở mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây (thâm hụt 187 triệu USD).

Lạm phát cả năm 2013 dự báo vẫn được kiểm soát xung quanh mức 7% nếu như có sự quản lý và điều tiết tốt việc điều chỉnh giá các mặt hàng và dịch vụ do nhà nước quản lý. Đây sẽ là thành quả nổi bật của kinh tế Việt Nam trong việc duy trì lạm phát ổn định liên tiếp 2 năm giúp ổn định lạm phát kỳ vọng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Thị trường chứng khoán tiếp tục có những dấu hiệu khởi sắc khi chỉ số Vn-index cải thiện qua từng tháng, thanh khoản tuy chưa cao nhưng ổn định qua từng phiên giao dịch và tăng dần từng tháng trong khi các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng quay lại thị trường.

Nhìn chung, hoạt động kinh tế Việt Nam cũng đã có chuyển biến tích cực, tuy nhiên để hoàn thành kế hoạch năm 2013 với mức     Việt Nam tăng trưởng 10% trong bảo hiểm phi nhân thọ và 15% trong bảo hiểm nhân thọ, các doanh nghiệp cần nỗ lực nhiều hơn nữa.

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ

Trong qúy III năm 2013, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 18.228 tỉ đồng tăng 8,13% so với cùng kỳ năm ngoái, nhận tái bảo hiểm từ nước ngoài 690 tỉ đồng, tái bảo hiểm ra nước ngoài 4.647 tỉ đồng, bồi thường 7.429 tỉ đồng.

Trong quý III năm 2013 có nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tăng 60,38%, bao hiem suc khoe và tai nạn con người tăng 27,26%, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tăng 24,48%, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính tăng 23,30%, còn lại các nghiệp vụ khác đều giảm hoặc tăng ít ví dụ như bảo hiểm hàng hóa vận chuyển tăng 14%, bảo hiểm xe cơ giới tăng 8%, bảo hiểm hàng không giảm 34,97%, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu giảm 6%, bảo hiểm nông nghiệp giảm 4%.

Dẫn đầu là nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đạt doanh thu 5.010 tỉ đồng, bảo hiểm tài sản và thiệt hại 4.291 tỉ đồng, bao hiem suc khoe và tai nạn con người 3.520 tỉ đồng, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu 1.372 tỉ đồng, bảo hiểm cháy nổ (bao gồm cả bắt buộc và tự nguyện) 1.298 tỉ đồng

Dẫn đầu doanh thu khai thác bảo hiểm gốc là Bảo hiểm PVI 4.221 tỉ đồng, Bảo Việt 4.118 tỉ đồng, Bảo Minh 1.728 tỉ đồng, PJICO 1.484 tỉ đồng, PTI 1.018 tỉ đồng.

Các doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu cao là ACE 157,54% Phú Hưng 121,92%, Cathay 70,22%, Bảo Long 69,74%, MIC 54,02%

Bồi thường bảo hiểm gốc toàn thị trường 7.429 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 2.946 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 56%.

Bảo hiểm xe cơ giới

Bảo hiểm xe cơ giới đạt doanh thu 5.010 tỉ đồng tăng trưởng 8,82%, đã bồi thường 2.266 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 843 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 61%. Dẫn đầu doanh thu là Bảo Việt 1.270 tỉ đồng, PJICO 771 tỉ đồng, PTI 584 tỉ đồng, PVI 436 tỉ đồng, Bảo Minh 430 tỉ đồng. Tỉ lệ bồi thường có rủi ro cao là Groupama 252%, Liberty 66%, AIG 56%, Bảo Việt 50%.

Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đạt doanh thu 971 tỉ đồng, bồi thường 337 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 35% (Chưa tính dự phòng bồi thường). Dẫn đầu doanh thu là Bảo Việt 285 tỉ đồng, Bảo Minh 149 tỉ đồng, Bảo hiểm PVI 123 tỉ đồng, BIC 83 tỉ đồng, MIC 77 tỉ đồng. Các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao là Groupama 300%, Baoviet Tokio Marine 61%.

Bảo hiểm tài sản thiệt hại

Bảo hiểm tài sản thiệt hại đạt doanh thu 4.291 tỉ đồng tăng 15,69% so với cùng kỳ trong đó tái bảo hiểm trong nước 1.641 tỉ đồng, tái bảo hiểm nước ngoài 2.113 tỉ đồng, đã bồi thường 834 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 736 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 36%. Các doanh nghiệp doanh thu cao là Bảo hiểm PVI 2.535 tỉ đồng, Bảo Việt 376 tỉ đồng, Samsung Vina 287 tỉ đồng, BIC 139 tỉ đồng, PTI 116 tỉ đồng,  Bảo Minh 113 tỉ đồng, Pjico 113 tỉ đồng.

Bao hiem suc khoe và tai nạn con người

Bao hiem suc khoe và tai nạn con người đạt doanh thu 3.520 tỉ đồng, tăng trưởng 27,26 %. Dẫn đầu doanh thu là Bảo Việt 1.359 tỉ đồng, Bảo Minh 493 tỉ đồng, Bảo hiểm PVI 368 tỉ đồng, PTI 173 tỉ đồng, PJICO 130 tỉ đồng. Số tiền đã giải quyết bồi thường 1.490 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 250 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 49%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao là Toàn Cầu 76%, PTI 75%, BSH 59%, Bảo Việt 52%. Nhiều doanh nghiệp đã chú trọng phát triển sản phẩm bảo hiểm mới có quyền lợi về chăm sóc y tế, thương tật, tử vong cao hơn hấp dẫn với đối tượng khách hàng có thu cao.

Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu

Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu đạt doanh thu 1.372 tỉ đồng, giảm 6,3%, trong đó tái bảo hiểm trong nước 387 tỉ đồng, tái bảo hiểm nước ngoài 567 tỉ đồng. Các doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu về doanh thu gồm Bảo hiểm PVI 512 tỉ đồng, Bảo Việt 354 tỉ đồng, PJICO 168 tỉ đồng, Bảo Minh 107 tỉ đồng. Số tiền đã bồi thường toàn nghiệp vụ 1.512 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 434 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 141%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao là Hùng Vương 10.158%, ABIC 4.371%, BSH 685%, MSIG 200%, Bảo Minh 120%, Baoviet Tokio Marine 98%.

Bảo hiểm cháy nổ

Bảo hiểm cháy nổ đạt doanh thu 1.298 tỉ đồng, giảm 20,09% so với cùng kỳ năm trước. Dẫn đầu doanh thu gồm Bảo Minh 300 tỉ đồng, Bảo Việt 185 tỉ đồng, Pjico 114 tỉ đồng, UIC 79 tỉ đồng, BIC 70 tỉ đồng. Số tiền đã giải quyết bồi thường 471 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 304 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 59%, các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao gồm: AAA 106%, Samsung Vina 99%, BIC 89%, PVI 63%, Bảo Minh 54%.

Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đạt doanh thu 588 tỉ đồng, dẫn đầu là Bảo Minh 124 tỉ đồng, Bảo Việt 96 tỉ đồng, MSIG 67 tỉ đồng, Fubon 45 tỉ đồng, UIC 44 tỉ đồng. Bồi thường toàn thị trường 128 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 22%.

Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển

Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đạt doanh thu 1.595 tỉ đồng, tăng 14,08% chứng tỏ xuất nhập khẩu hàng hóa đang trên đà khôi phục và phát triển, tái bảo hiểm trong nước đạt 215 tỉ đồng, tái bảo hiểm ra nước ngoài 589 tỉ đồng. Các doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu cao gồm Samsung Vina 426 tỉ đồng, Bảo Việt 288 tỉ đồng, PVI 156 tỉ đồng, Pjico 155 tỉ đồng, Bảo Minh 90 tỉ đồng. Đã giải quyết bồi thường 323 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 227 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 34%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao gồm ABIC 262%, ACE 40%, PTI 33%.. 
bảo hiểm việt nam

Các sản phẩm bảo hiểm khác

Bảo hiểm hàng không đạt doanh thu 425 tỉ đồng, giảm 34,97%, đã bồi thường 71 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 20 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 21%.

Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đạt doanh thu 78 tỉ đồng, tăng 24,48%, đã bồi thường 3 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 8 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 14%.

Bảo hiểm trách nhiệm chung đạt doanh thu 453 tỉ đồng, tăng 15,55%, đã bồi thường 65 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 94 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 35%.

Bảo hiểm nông nghiệp đạt doanh thu 135 tỉ đồng, giảm 4,68%, đã bồi thường 380 tỉ đồng, dự phòng bồi thường 9 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 288%

Thị trường bảo hiểm nhân thọ

Số lượng hợp đồng bảo hiểm Việt Nam

Số lượng hợp đồng khai thác mới trong 9 tháng 2013 đạt mức tăng trưởng cao với 865.167 hợp đồng (sản phẩm chính), tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái trong đó Prudential khai thác được 247.068 hợp đồng, Prevoir là 224.485 hợp đồng và Bảo Việt Nhân thọ là 155.722 hợp đồng.

Cơ cấu số lượng hợp đồng khai thác mới sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trong 9 tháng năm 2013 như sau: sản phẩm bảo hiểm tử kỳ chiếm 42,9%, sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp chiếm 32,4%; sản phẩm bảo hiểm đầu tư chiếm 24,6%; sản phẩm bảo hiểm trọn đời và sản phẩm bảo hiểm trả tiền định kỳ chiếm 0,1%.

Số lượng hợp đồng khôi phục hiệu lực (sản phẩm chính) trong 9 tháng đầu năm là 62.747 hợp đồng giảm 16% so với cùng kỳ năm ngoái. Các doanh nghiệp có số lượng hợp đồng khôi phục cao là Prudential: 50.564 hợp đồng, Manulife 4.364 hợp đồng và Dai-ichi là 2.955 hợp đồng.

Nhóm sản phẩm khôi phục nhiều nhất là: sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp (29.623 hợp đồng) và sản phẩm bảo hiểm tử kỳ (25.973 hợp đồng).

Số lượng hợp đồng hết hiệu lực trong kỳ là 698.057 hợp đồng tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp có số hợp đồng hết hiệu lực nhiều trên thị trường là Prudential với 212.821 hợp đồng, Prevoir 191.303 hợp đồng và Bảo Việt Nhân thọ 116.534 hợp đồng

Nhóm sản phẩm hết hiệu lực nhiều nhất gồm sản phẩm tử kỳ 315.057 hợp đồng và sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp chiếm 311.847 hợp đồng .

Tổng số lượng hợp đồng có hiệu lực cuối kỳ là 4.993.961 hợp đồng, tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái. Các doanh nghiệp có số lượng hợp đồng có hiệu lực lớn là Prudential 2.101.666, Bảo Việt Nhân thọ là 1.317.399 hợp đồng, Manulife là 414.786 hợp đồng.

Cơ cấu số lượng hợp đồng có hiệu lực cuối kỳ theo loại sản phẩm như sau: sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp chiếm 61,5%; sản phẩm bảo hiểm đầu tư chiếm 18,8%; sản phẩm bảo hiểm tử kỳ chiếm 18,3%,  sản phẩm bảo hiểm trọn đời, sinh kỳ và trả tiền định kỳ chiếm 1,4%.

Số tiền bảo hiểm

Tổng mức trách nhiệm mà các doanh nghiệp bảo hiểm Nhân thọ đang nắm giữ là 674 nghìn tỉ đồng tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái trong đó mức trách nhiệm của các sản phẩm chính đạt 487 nghìn tỉ đồng tăng 23%, mức trách nhiệm của các sản phẩm phụ đạt 187 nghìn tỉ đồng tăng 28%. Nhóm sản phẩm bảo hiểm có mức trách nhiệm cao nhất là sản phẩm đầu tư với tổng mức trách nhiệm là 263 ngàn tỉ.

Các doanh nghiệp có tổng mức trách nhiệm cao trên thị trường bảo hiểm là: Prudential 176 ngàn tỉ, Dai-ichi Life 116 ngàn tỉ đồng và Bảo Việt Nhân thọ 106 ngàn tỉ.

Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm định kỳ năm đầu trong 9 tháng đầu năm 2013 đạt 4.583 tỉ đồng tăng 28,3% so với cùng kỳ năm trước, phí bảo hiểm đóng một lần là 84 tỉ đồng tăng 68% so với cùng kỳ năm trước. Tổng phí khai thác mới trong 9 tháng đầu năm đạt 4.667 tỉ đồng tăng 28,8% so với cùng kỳ năm trước. Dẫn đầu về phí bảo hiểm khai thác mới là Prudential với 1.185 tỉ đồng, Bảo Việt Nhân thọ 1.102 tỉ đồng và Manulife 586 tỉ đồng.

Tổng phí bảo hiểm toàn thị trường là 15.574 tỉ đồng, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp có thị phần lớn trên thị trường là: Prudential với 5.256 tỉ đồng chiếm 33,75% thị phần, Bảo Việt Nhân thọ với 4.488 tỉ đồng chiếm 28,82% thị phần, Manulife với 1.845 tỉ, chiếm 11,85% thị phần.

Nhóm sản phẩm có tỉ trọng sản phẩm phí cao vẫn là sản phẩm hỗn hợp chiếm 61,7% (9.616 tỉ đồng), sản phẩm đầu tư là 25,3% (3.941 tỉ đồng), sản phẩm phụ chiếm 8,7 % (1.359 tỉ đồng). 

Trả tiền bảo hiểm

Tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi cho các khách hàng trong 9 tháng năm 2013 là 6.224 tỉ đồng.

Tổng số trả tiền bảo hiểm là 3.964 tỉ đồng, trong đó, Bảo Việt Nhân thọ chi trả 1.747 tỉ đồng, Prudential 1.332 tỉ đồng và Manulife 333 tỉ đồng.

Tổng số giá trị hoàn lại là 1.308 tỉ đồng, Prudential là doanh nghiệp có giá trị hoàn lại cao nhất thị trường với 372 tỉ đồng, Bảo Việt Nhân thọ là 332 tỉ đồng tiếp theo là Prevoir 197 tỉ đồng. Đặc biệt, Prevoir là doanh nghiệp bảo hiểm có tổng số giá trị hoàn lại đứng thứ 3 trên thị trường do các sản phẩm chủ yếu của Prevoir là sản phẩm tử kỳ có hoàn phí.

Tổng số lãi chia cho người thụ hưởng là 952 tỉ đồng, trong đó, Prudential trả 525 tỉ đồng, Bảo Việt Nhân thọ trả 212 tỉ đồng và Manulife trả 183 tỉ đồng.

Số lượng đại lý bảo hiểm

Tính đến hết tháng 9 năm 2013, tổng số lượng đại lý bảo hiểm Việt Nam có mặt trên thị trường là 240.590 người tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp có số lượng đại lý cao nhất là Prudential 126.049 người, Bảo Việt Nhân thọ là 33.985 người, Dai-ichi 20.141 người.

Số lượng đại lý mới tuyển dụng trong 9 tháng đầu năm 2013 là: 94.610 người giảm 13,4% so với cùng kỳ năm ngoái, các doanh nghiệp bảo hiểm có số lượng đại lý mới tuyển dụng nhiều nhất thị trường theo thứ tự là: Prudential (28.922 người), Bảo Việt Nhân thọ (13.588 người) và AIA (13.444 người).

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Mười sự kiện nổi bật của ngành Bảo hiểm Việt Nam năm 2013

Những ngày đầu Xuân, thị trường bảo hiểm đã bắt đầu hé lộ những con số cập nhật về thị trường 2013, dù không thật hoành tráng nhưng đủ để lạc quan. Đầu tư Chứng khoán xin trích đăng 10 sự kiện của ngành bảo hiểm 2013 do Tổng thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam bình chọn

bảo hiểm việt nam


1. Chính phủ ban hành Nghị định 98/2013/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm và Bộ Tài chính ban hành Thông tư 101/2013/TT-BTC hướng dẫn quản lý và sử dụng Quỹ Bảo vệ người được bảo hiểm nhằm đảm bảo tính thượng tôn pháp luật của Doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia bảo hiểm khi Doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năng thanh toán.

2. Doanh nghiệp bao hiem nhan tho bắt đầu thực hiện chính sách an sinh xã hội theo quy định của Thông tư 115/2013/BTC về Bảo hiểm hưu trí tự nguyện và Quỹ Bảo hiểm hưu trí, nhằm đảm bảo cho người lao động (cả người dân, thợ thủ công, tiểu chủ, tiểu thương, lao động tự do) có thu nhập từ hưu trí tự nguyện khi hết độ tuổi lao động.

3. Mặc dù phí bảo hiểm thu được chỉ bằng 1/3 số tiền bồi thường do tổn thất bị dịch bệnh và những dấu hiệu trục lợi bảo hiểm cần được làm rõ nhưng Bảo Việt, Bảo Minh, Vinare tiếp tục thực hiện chính sách của Chính phủ tiến hành thí điểm bảo hiểm cây lúa, vật nuôi, thủy sản trên 20 tỉnh thành phố cả nước.

4. 7 Doanh nghiệp bao hiem (Bảo Minh, Bảo Việt, PVI, Bảo Việt Tokiomarine, QBE, AIG, UIC) tiếp tục thực hiện chính sách thí điểm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu mặc dù hai năm qua (2011-2012) phí bảo hiểm thu được 9,62 tỉ đồng nhưng bồi thường lên tới 13,33 tỉ đồng.

5. ABIC là Doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên với trách nhiệm của người đứng đầu trong hợp đồng bảo hiểm đã vay ngân hàng hơn 400 tỉ đồng đáp ứng nhu cầu bồi thường cho vụ tàu Vinalines’Queen bị tổn thất khi chở quặng niken. Sau đó, ABIC phân bổ số tiền bồi thường cho các nhà đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm liên quan.

6. Lần đầu tiên thị trường bao hiem Phi nhân thọ Quý 1/2013 tăng trưởng âm (-5%) với rất nhiều Doanh nghiệp bảo hiểm, nghiệp vụ bảo hiểm tăng trưởng âm trong cùng thời gian này. Có thể lý giải nguyên nhân là khó khăn nền kinh tế tiết giảm đầu tư chi tiêu công và tăng trưởng tín dụng thấp, nhiều cơ sở ngừng trệ làm giảm nhu cầu bảo hiểm và tình trạng dấu Doanh thu năm 2012 chuyển sang đầu năm 2013 để không phải giao kế giao kế hoạch cao đã không xảy ra do doanh nghiệp đã kiểm soát chi nhánh chặt chẽ. Rất mừng là 6 tháng tăng trưởng 2,5%, 9 tháng tăng trưởng 8%, cả năm tăng trưởng 8%.
bảo hiểm việt nam

7. Thị trường bao hiem Viet Nam không bị áp lực cạnh tranh do tiền nhàn rỗi ­dân cư gửi vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán, bất động sản giảm. Đồng thời người dân đã thấy rủi ro khi khủng hoảng tài chính xảy ra tại Châu Âu. Bảo hiểm Nhân thọ nắm bắt cơ hội phát triển sản phẩm, tăng cường chăm sóc khách hàng, đưa doanh thu ước đạt 21.000 tỉ đồng tăng trưởng 15%.

Bảo hiểm phi nhân thọ vượt khó khăn, thách thức, ước đạt doanh thu 23.600 tỉ đồng, tăng trưởng 8%, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có lãi về nghiệp vụ bảo hiểm, không trông chờ lấy lãi đầu tư tài chính bằng tiền nhàn rỗi (khi lãi suất đầu tư giảm) bù đắp cho lỗ nghiệp vụ như trước đây thường làm.

8. Năm 2013 là năm có nhiều bão nhất, trong đó cơn bão số 10, 11 gây thiệt hại nặng nề tại miền Trung, lũ lụt, giá rét, sương muối xảy ra ở vùng núi phía Bắc, tôm bị dịch bệnh tại miền Tây, hỏa hoạn và thiệt hại về tài sản, tính mạng trong tai nạn giao thông làm gia tăng số tiền bồi thường của Doanh nghiệp bảo hiểm.

9. Toàn ngành bảo hiểm Việt Nam đầu tư vào nền kinh tế quốc dân ước đạt 105.000 tỉ đồng, tăng trưởng 5 tỉ USD là nguồn vốn trung và dài hạn quý báu để xây dựng, phát triển đất nước. Đồng thời tạo công ăn việc làm cho 240.000 đại lý bảo hiểm nhân thọ, 60 người ngàn đại lý bảo hiểm phi nhân thọ từ lao động dôi dư của các DN bị đình trệ và có trên 25.000 cán bộ nhân viên bảo hiểm.

10. Bộ Tài chính và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức thành công các Hội nghị của các nhà quản lý bảo hiểm và các Hiệp hội Bảo hiểm của các nước ASEAN tại Đà Nẵng do Việt Nam đăng cai, tổ chức tổng kết 20 năm phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam. Ngày 18/12 hàng năm được Cơ quan Quản lý Nhà nước quy định là ngày thị trường Bảo hiểm Việt Nam.
Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Dấu mốc trưởng thành của bảo hiểm Việt Nam

Năm nay ghi dấu mốc 20 năm phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam. Một năm khó khăn nhưng ngành bảo hiểm tiếp tục ghi dấu ấn, thể hiện sự trưởng thành vững chắc của mình.

Nỗ lực vượt khó...

Năm 2013 chuẩn bị khép lại. Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, thị trường bảo hiểm Việt Nam 11 tháng đầu năm 2013 tuy có tăng trưởng chậm lại, song vẫn đạt được những kết quả nhất định, giúp duy trì và cải thiện năng lực tài chính, hoạt động của các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nhiều DNBH đã tranh thủ tái cơ cấu, đặc biệt về sản phẩm và chất lượng dịch vụ để sẵn sàng tận dụng thời cơ khi kinh tế sôi động trở lại.

Khó khăn kinh tế là nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), do làm giảm tốc độ tăng nhu cầu bảo hiểm của cá nhân và tổ chức trên cả hai lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ.

Do vậy, tốc tăng trưởng của thị trường bảo hiểm Việt Nam 11 tháng đầu năm 2013 và dự kiến cả năm đều thấp hơn so với cùng kỳ năm 2012. Mặc dù vậy, con số đạt được là tương đối khả quan.

Cụ thể, trong 11 tháng đầu năm, tổng doanh thu phí bảo hiểm của toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam ước đạt 40.717 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 21.967 tỷ đồng, tăng 6%; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 18.750 tỷ đồng, tăng 12%.


Dự kiến cả năm 2013, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt 44.388 tỷ đồng, tăng 7,6% so với năm 2012, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 23.968 tỷ đồng, tăng khoảng 5%; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 20.420 tỷ đồng, tăng 11%.

Trong 11 tháng đầu năm nay, toàn ngành bảo hiểm đã đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 103.507 tỷ đồng, trong đó, doanh nghiệp nhân thọ khoảng 80.960 tỷ đồng, doanh nghiệp phi nhân thọ khoảng 22.547 tỷ đồng. Dự kiến cả năm, tổng đầu tư ước đạt 109.000 tỷ đồng, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2012.

Các con số tăng trưởng nói trên đều chậm hơn so với năm 2012, nhưng điều đặc biệt trong năm 2013 là có thêm 1 DNBH gia nhập thị trường bảo hiểm Việt Nam, sau năm 2012 không có thêm doanh nghiệp nào - lần đầu tiên kể từ ít nhất là năm 2007. DNBH mới thuộc lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ giúp nâng số DNBH hoạt động trong lĩnh vực này lên 15 và tổng số DNBH lên 58.

Cùng với những đóng góp về đầu tư cho nền kinh tế, bảo hiểm, với ý nghĩa chính của mình, đã góp phần hạn chế tổn thất, ổn định tài chính và hỗ trợ an sinh - xã hội cho các cá nhân và doanh nghiệp thông qua tư vấn quản trị rủi ro, bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm. Theo ước tính, trong 11 tháng đầu năm 2013, tổng số tiền mà các DNBH đã bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm ước là 16.290 tỷ đồng, trong đó các DNBH nhân thọ chi trả khoảng 7.500 tỷ đồng; các DNBH phi nhân thọ chi trả khoảng 8.790 tỷ đồng.

... và tranh thủ cơ hội

Trong lúc khó khăn, nhiều doanh nghiệp đã tranh thủ tái cơ cấu tài chính, hoạt động để có tư thế tốt nhất đón đợi kinh tế phục hồi.

Tái cơ cấu tài chính không chỉ là nhu cầu tự thân của các DNBH mà còn là yêu cầu từ cơ quan quản lý, khi năm 2013 gần như là năm đầu tiên triển khai đề án Tái cấu trúc các công ty chứng khoán và DNBH mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tháng 12 năm ngoái.
bao hiem viet nam


Thấy được tầm quan trọng và mức độ cấp thiết của hoạt động giám sát tình trạng tài chính của DNBH, tại Hội nghị các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN và Hội nghị Hội đồng bảo hiểm ASEAN do Việt Nam vừa chủ trì tổ chức (4 - 6/12), Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm đã đề xuất và được chấp thuận đưa vào thảo luận 3 nội dung là: hệ thống cảnh báo sớm, giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ; quản trị doanh nghiệp và nâng cao năng lực quản lý, giám sát.

Về hoạt động, mặc dù vẫn còn tình trạng cạnh tranh không lành mạnh để giành giật thị phần, nhưng đã có nhiều DNBH bắt đầu chú trọng đến hiệu quả nghiệp vụ hơn là tăng doanh thu, thị phần bằng mọi giá. Để tăng cường chất lượng sản phẩm và dịch vụ, các DNBH đã tiến hành trên mọi mặt có liên quan, từ nghiên cứu, định phí, thiết kế sản phẩm, đến đào tạo nhân viên, đại lý, chăm sóc khách hàng...

Theo đó, năm 2013 chứng kiến sự ra đời của hàng loạt sản phẩm bảo hiểm mới, đặc biệt trong lĩnh vực nhân thọ. Cùng với đó là nhiều phương thức bán hàng mới, hiện đại, trong đó đáng chú ý là các sản phẩm bảo hiểm liên kết ngân hàng, các sản phẩm ứng dụng công nghệ tin học -  viễn thông.

Tính đến nay, tổng cộng đã có 800 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ đăng ký với Bộ Tài chính, 350 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được Bộ Tài chính phê duyệt, 3 sản phẩm bảo hiểm bắt buộc được Bộ Tài chính ban hành.

Đặc biệt, toàn ngành bao hiem viet nam đang nỗ lực để cho ra đời những sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện đầu tiên, góp phần đáp ứng nhu cầu vô cùng lớn của đa số người dân trong bối cảnh các chính sách hưu trí của Nhà nước đã tiệm cận quá tải. Đây thực sự là một cơ hội rất lớn đối với các DNBH.

Và như phát biểu của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng tại Hội nghị các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN và Hội nghị Hội đồng bảo hiểm ASEAN nói trên, “nhu cầu bảo hiểm của người dân, của các tổ chức kinh tế - xã hội sẽ ngày càng tăng lên, đây là cơ hội để thị trường bảo hiểm phát triển”.

Thị trường bảo hiểm vietnam: Sáng hơn trong năm mới

Báo cáo của Cục quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, dự kiến năm 2014, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường tăng trưởng khoảng 10 - 11% so với năm 2013.
Năm 2013, Bộ Tài chính đã đẩy mạnh các hoạt động tái cấu trúc thị trường bảo hiểm, tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm khai thác tại các mảng thị trường tiềm năng... Nhờ đó, thị trường bảo hiểm năm 2013 đã vượt qua khó khăn, tăng trưởng khá, tạo động lực và niềm lạc quan cho năm 2014.

Ba điểm nhấn

Kết quả khả quan trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, thị trường bảo hiểm. Tổng doanh thu phí bảo hiểm của toàn thị trường năm 2013 ước đạt 44.388 tỷ đồng, tăng 7,6% so với năm 2012, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 23.968 tỷ đồng, tăng 5%; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 20.420 tỷ đồng, tăng 11%. Tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm ước đạt 17.685 tỷ đồng, trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chi trả khoảng 8.095 tỷ đồng; các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chi trả khoảng 9.590 tỷ đồng. Năm 2013 cũng ghi dấu ấn về tổng số tiền đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm trở lại nền kinh tế, với con số ước đạt 109.000 tỷ đồng tăng 21,7% so với năm 2012, trong đó, DN nhân thọ khoảng 81.000 tỷ đồng, DN phi nhân thọ khoảng 28.000 tỷ đồng.
bao hiem viet nam
Sự ra đời của hàng loạt sản phẩm bảo hiểm mới, đặc biệt trong lĩnh vực nhân thọ. Trong năm 2013, đã có 39 sản phẩm nhân thọ mới và sản phẩm sửa đổi, bổ sung được Bộ Tài chính phê chuẩn, nâng tổng số sản phẩm nhân thọ cung cấp trên thị trường lên 325 sản phẩm. Như vậy, đến nay, tổng cộng đã có 800 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ đăng ký với Bộ Tài chính, 325 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được Bộ Tài chính phê duyệt, 3 sản phẩm bảo hiểm bắt buộc được Bộ Tài chính ban hành. Bên cạnh đó, nhiều phương thức bán hàng mới, hiện đại với các điểm nhấn là các sản phẩm bảo hiểm liên kết ngân hàng, kênh bán hàng trực tuyến được một số doanh nghiệp bảo hiểm chú trọng triển khai.

Quyết liệt tái cấu trúc doanh nghiệp bảo hiểm, nâng cao chất lượng đầu tư, bảo đảm an toàn tài chính. Tái cơ cấu tài chính không chỉ là nhu cầu tự thân của các doanh nghiệp bảo hiểm mà còn là yêu cầu từ cơ quan quản lý. Hiện có 44/45 doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo được tiêu chí về an toàn tài chính. Năm 2013, có 6 doanh nghiệp bảo hiểm tăng vốn điều lệ với tổng số tiền hơn 1.000 tỷ đồng. Đối với 01 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có dấu hiệu mất khả năng thanh toán, Bộ Tài chính đã chỉ đạo phương án tái cấu trúc thông qua phát hành thêm cổ phiếu, gọi vốn từ nhà đầu tư khác, cơ cấu lại đội ngũ lãnh đạo….

Nhờ vậy, hoạt động của DN này đã được cải thiện. Bộ Tài chính cũng tăng cường quản lý, giám sát và kiểm tra việc tuân thủ quy định về an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, yêu cầu thực hiện đúng các quy định của pháp luật về đầu tư tài chính, trích lập dự phòng bồi thường bảo hiểm và sử dụng quỹ dự phòng dao động lớn; Duy trì khả năng thanh toán, thực hiện đầu tư theo nguyên tắc an toàn, thận trọng và đảm bảo giới hạn đầu tư theo quy định…

TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NĂM 2013


 Chỉ tiêu                                                      Ước năm 2013 (tỷ đồng)
Tổng doanh thu phí bảo hiểm                      44.388
Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ              23.968
Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ              20.420
Tổng số tiền đầu tư                                     109.000
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ              81.000
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ              28.000
Tổng số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm  17.685
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ              8.095
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ              9.590

Lạc quan năm mới

Báo cáo của Cục quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, dự kiến năm 2014, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường tăng trưởng khoảng 10 - 11% so với năm 2013. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, thị trường bao hiem vietnam vẫn đang rất tiềm năng và nếu có hướng đi hợp lý thì tốc độ tăng trưởng sẽ cao hơn dự báo, bất chấp khó khăn của nền kinh tế.

Mới đây, tại Hội nghị các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN và Hội nghị Hội đồng bảo hiểm ASEAN, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cũng nhấn mạnh: “Nhu cầu bảo hiểm của người dân, của các tổ chức kinh tế - xã hội sẽ ngày càng tăng lên. Đây là cơ hội để thị trường bảo hiểm phát triển”. 

Chia sẻ nhận định này, Hiệp hội Bao hiem vietnam cho biết, thị trường bảo hiểm đang có cơ hội tăng tốc bởi: Mức sống của người dân dự kiến sẽ tiếp tục được cải thiện trong thời gian tới; đối tượng có thu nhập khá chưa tham gia bảo hiểm còn nhiều; người dân và các DN ngày càng ý thức mua bảo hiểm nhằm phòng rủi ro trong tương lai... Đây là những yếu tố thuận lợi góp phần tiếp tục thu hút các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển nhiều sản phẩm bảo hiểm mới, đa dạng, phù hợp với nhu cầu của các đối tượng khách hàng.

Chia sẻ về triển vọng thị trường cũng như cơ hội tăng tốc của các doanh nghiệp bảo hiểm trong năm 2014, nhiều lãnh đạo DN cũng tỏ ra rất lạc quan. Ông Takashi Fujji, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Dai-ichi Life Việt Nam cho biết, năm 2014, Dai-ichi Life Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 20%, tiếp tục phát triển mạng lưới kinh doanh phủ rộng khắp các tỉnh, thành nhằm cung cấp các dịch vụ thuận tiện và tốt hơn cho khách hàng theo từng khu vực, nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua sự sáng tạo, đổi mới sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. 

Ông Lê Văn Thành, Tổng giám đốc Bảo hiểm Bảo Minh khẳng định: “Là một nền kinh tế mới nổi với nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn, nên thị trường bao hiem vietnam cũng sẽ có sự tham gia nhiều hơn của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài. Điều này sẽ có lợi cho người tiêu dùng và kích thích cạnh tranh, đồng thời đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước phải luôn cải tiến sản phẩm và hoàn thiện khâu chăm sóc khách hàng để cạnh tranh được với đối thủ ngoại”.

Năm 2014, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khẳng định sẽ chú trọng đến hiệu quả nghiệp vụ hơn là tăng doanh thu, thị phần bằng mọi giá. Để tăng cường chất lượng sản phẩm và dịch vụ, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục tái cấu trúc DN, kiện toàn mô hình tổ chức hoạt động, cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính và năng lực quản trị điều hành theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế...

Theo Phùng Tuấn

Theo Tạp chí Đầu tư và tài chính số 1+2 - 2014

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

Thị trường bao hiem Viet Nam 2013 - Chỉ tiêu nào phù hợp

Năm 2012 sắp qua đi với nhiều khó khăn, thách thức hơn cả những dự liệu ban đầu, khiến ngành bao hiem Viet Nam khó về đích kế hoạch tăng trưởng 17%. Chuẩn bị xây dựng kế hoạch kinh doanh cho năm tới, nhiều DN trong ngành không còn đặt ra tốc độ tăng trưởng “năm sau cao hơn năm trước”.
Ngành bảo hiểm năm 2013 được dự báo vẫn khó khăn như năm 2012
Ông Phùng Đắc Lộc, Tổng thư ký Hiệp hội Bao hiem Viet Nam nhận định, thị trường bảo hiểm năm 2013 chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn tương tự như năm 2012. “Quốc hội đã thông qua chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 với tăng trưởng GDP 5,5%, đầu tư công chiếm 30% GDP, CPI tăng 8%, đồng nghĩa với dự báo nền kinh tế chưa thể khởi sắc”, ông Lộc nói.

Cùng quan điểm với ông Lộc, nhiều chuyên gia trong ngành dự báo, nhiều khả năng, tăng trưởng doanh thu của ngành bảo hiểm trong năm 2013 chỉ dao động quanh mức 10%. Như vậy, đây sẽ là năm thứ ba liên tiếp, thị trường bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng doanh thu thụt lùi.

Năm 2012 còn hơn 1 tháng nữa mới khép lại, nhưng theo ước tính, tăng trưởng toàn thị trường chỉ cao hơn mức 10% chút đỉnh, so với kế hoạch 17%. Trong đó, khối bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt tốc độ tăng trưởng 13 - 14%, ở khối nhân thọ là 11 - 12%. Mức tăng trưởng 13 - 14% của khối bảo hiểm phi nhân thọ trong năm nay có thể nói là sự nỗ lực của các doanh nghiệp khối này, trong bối cảnh đầu tư công bị cắt giảm, các DN dừng lại nhiều kế hoạch đầu tư mở rộng sản xuất - kinh doanh. Thực tế, trước nhiều khó khăn, thách thức, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã chuyển hướng sản phẩm sang bảo hiểm tài sản cá nhân, bảo hiểm sức khỏe và y tế, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm tài chính tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp, tạo ra tăng trưởng mới cho thị trường bảo hiểm và ít nhiều ghi nhận được kết quả nhất định.

Ở khối bảo hiểm nhân thọ cũng cho thấy nỗ lực không kém, khi thị trường bất động sản, chứng khoán ảm đạm, thu nhập của người lao động ảnh hưởng khi sản xuất - kinh doanh nhiều ngành nghề giảm sút, giá cả dịch vụ hàng hóa tăng nhưng vẫn thu hút được đông đảo khách hàng tham gia bảo hiểm và duy trì hợp đồng bảo hiểm cũ.

Các doanh nghiệp liên tiếp tung sản phẩm mới và chú trọng phát triển kênh phân phối để tiếp cận nhiều nguồn khách hàng tiềm năng. Trong đó, bancassurance là kênh phân phối được nhiều DN bảo hiểm nhân thọ đặc biệt quan tâm. Một số doanh nghiệp tập trung khai thác thế mạnh riêng như phát hành qua kênh bưu điện. Tuy nhiên, do đặc thù của thị trường bao hiem Viet Nam, kênh đại lý vẫn là kênh chủ đạo nên các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ vẫn chú trọng đầu tư cho kênh này. Một số doanh nghiệp tiếp tục phát triển mô hình tổng đại lý như Manulife... Chiến lược cạnh tranh trên sẽ tiếp tục được các DN phát triển cho năm 2013.
bao hiem
Theo ông Lộc, với những bài học kinh nghiệm của 2 năm qua để vượt qua khó khăn, thách thức của suy thoái kinh tế toàn cầu, chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát sẽ là nhân tố tạo cho các DN xây dựng kế hoạch kinh doanh bảo hiểm năm 2013 sát với thực tế để hoàn thành kế hoạch.

Năm 2013 là năm bản lề thực hiện kế hoạch phát triển thị trường bảo hiểm 2011 - 2015 đã được Bộ Tài chính đề ra, đồng thời, cũng là năm kỉ niệm 20 năm hình thành phát triển thị trường bao hiem Viet Nam. Đây sẽ là động lực quan trọng để các DN trong ngành bao hiem Viet Nam phấn đấu lập thành tích cao nhất trong kinh doanh.

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Tình hình bảo hiểm nhân thọ Việt Nam nửa đầu năm 2013

Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam: 

Tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ trong ngành bảo hiểm Việt Nam 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 9.155 tỷ đồng tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2012.

Khai thác mới: 6 tháng đầu năm 2013, số lượng hợp đồng chính ước đạt 531.269 hợp đồng, tăng 21,5%. Tổng doanh thu khai thác mới ước đạt 2.621 tỷ đồng, tăng 16,8% so với 6 tháng năm 2012, trong đó, doanh thu khai thác mới của các hợp đồng chính ước đạt 2.429 tỷ đồng, tăng 17,6% so với 6 tháng đầu năm 2012, chiếm 92,7% doanh thu phí khai thác mới. Sản phẩm bảo hiểm bổ trợ có doanh thu khai thác mới đạt 192 tỷ đồng, chiếm 7,3% doanh thu khai thác mới.

Cơ cấu sản phẩm bảo hiểm khai thác mới:


+ Xét về doanh thu khai thác mới: 6 tháng đầu năm 2013, sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn cả, tiếp theo là sản phẩm bảo hiểm liên kết chung và sản phẩm bảo hiểm tử kỳ.

Cụ thể, doanh thu khai thác mới của sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp đạt 1.250 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 47,7% doanh thu khai thác mới. Doanh thu khai thác mới của sản phẩm bảo hiểm liên kết chung đạt 874 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 33,3% doanh thu khai thác mới. Doanh thu khai thác mới của sản phẩm bảo hiểm tử kỳ chiếm tỷ trọng 11,3% doanh thu khai thác mới. Doanh thu khai thác mới sản phẩm bảo hiểm trọn đời và sản phẩm bảo hiểm trả tiền định kỳ chiếm tỷ trọng nhỏ trong doanh thu khai thác mới.

Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ khai thác mới ước 6 tháng đầu năm 2013

Đơn vị: Tỷ đồng

bao hiem nhan tho - doanh thu 


+ Xét về số lượng hợp đồng khai thác mới thì sản phẩm bảo hiểm tử kỳ dẫn đầu trong tỷ trọng số lượng hợp đồng khai thác mới của toàn thị trường, tiếp theo là sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp và sản phẩm bảo hiểm liên kết chung.

Cụ thể là, số lượng hợp đồng khai thác mới của sản phẩm bảo hiểm tử kỳ trong 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 28.360 hợp đồng, chiếm 49,7% số lượng hợp đồng khai thác mới. Số lượng hợp đồng khai thác mới của sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp chiếm tỷ trọng 28,8%, liên kết chung chiếm tỷ trọng 21,3% trong số lượng hợp đồng khai thác mới và các nghiệp vụ bảo hiểm khác chiếm tỷ trọng nhỏ. 




bao hiem viet nam - co cau san pham


Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam tập trung khai thác sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp bao gồm Prudential, Manulife, Cathay, Fubon, Great Eastern. Các doanh nghiệp có tỷ trọng sản phẩm bảo hiểm liên kết chung lớn trong tổng số lượng hợp đồng khai thác mới là ACE, Dai-ichi, AIA, Bảo Việt. Một số doanh nghiệp sử dụng kênh phân phối bưu điện và ngân hàng như Prevoir, VCLI và Aviva có số lượng hợp đồng tử kỳ khai thác mới chiếm đa số.

- Cơ cấu thị phần doanh thu phi bao hiem nhân thọ: Prudential và Bảo Việt Nhân thọ duy trì thị phần dẫn đầu tương ứng là 32,6% và 31,1% về tổng doanh thu. Manulife, ACE, Dai-ichi, AIA có thị phần từ 6% đến 11%. Các doanh nghiệp khác chiếm thị phần không đáng kể.

- Hoạt động đầu tư: Tổng số tiền đầu tư 6 tháng đầu năm 2013 đạt khoảng 70.996 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2012. Tính đến tháng 6/2013, doanh thu từ hoạt động đầu tư ước đạt 3.639 tỷ đồng, tăng 2,4% so cùng kỳ năm 2012. Cơ cấu đầu tư của các DNBH nhân thọ mang tính an toàn với khoảng 60% đầu tư vào trái phiếu chính phủ và 15% đầu tư vào tiền gửi ngân hàng. Các hạng mục đầu tư rủi ro cao như cổ phiếu, góp vốn vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 8% tổng tài sản đầu tư.

- Tổng tài sản: Trong 6 tháng đầu năm 2013, có 3 doanh nghiệp tăng vốn điều lệ là Generali (vốn điều lệ tăng từ 720 tỷ đồng lên 800 tỷ đồng), Cathay (vốn điều lệ tăng từ 966 tỷ đồng lên 2.008 tỷ đồng), AIA (vốn điều lệ từ 1.035 tỷ đồng tăng lên 1.244 tỷ đồng). Tổng tài sản của các DNBH nhân thọ 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 85.538 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2012. Điều này cho thấy năng lực tài chính vững mạnh của các DNBH, đáp ứng tốt các nghĩa vụ của mình. Biên khả năng thanh toán đều cao hơn nhiều so với biên KNTT tối thiểu theo quy định của pháp luật, trung bình các doanh nghiệp có biên khả năng thanh toán cao hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu 150%.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong 6 tháng đầu năm 2013 thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn còn một số tồn tại như quy trình quản lý đại lý của một số doanh nghiệp chưa hoàn thiện dẫn đến khiếu nại tố cáo của nhiều đại lý trong việc chấm dứt hợp đồng đại lý, cạnh tranh, lôi kéo đại lý giữa các doanh nghiệp; danh mục đầu tư của nhiều doanh nghiệp vẫn chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, chưa phù hợp với bản chất dài hạn của bảo hiểm nhân thọ; chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng cao so với doanh thu phí bảo hiểm làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp...

Sự phát triển bảo hiểm nhân thọ gắn liền với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Với những khó khăn chung của nền kinh tế trong năm 2013, để có thể duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định là một thách thức đối với các doanh nghiệp. Vì vậy, bản thân mỗi doanh nghiệp cần tập trung phát triển sản phẩm bảo hiểm mới (như các sản phẩm bảo hiểm chăm sóc sức khỏe, sản phẩm hưu trí, bảo hiểm vi mô..), đáp ứng được nhu cầu của nhiều tầng lớp người tham gia bảo hiểm, mở rộng được các kênh phân phối mới bên cạnh các kênh phân phối truyền thống giúp bảo hiểm nhân thọ tiếp cận được hơn với người có nhu cầu.


Theo mof.gov.vn

Các loại bảo hiểm nhân thọ phổ biến hiện nay

Khi được tư vấn mua bảo hiểm, bạn dễ bị bối rối không biết nên chọn sản phẩm nào cho mình. Tuy nhiên, nếu như nắm rõ các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản dưới đây, kết hợp với thông tin tư vấn, bạn sẽ chọn lựa cho mình một loại hình bảo hiểm phù hợp với mục đích, khả năng tài chính của mình và người thân.

Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn

Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn là loại hình bảo hiểm có thời hạn nhất định, ví dụ 5, 10 hoặc 20 năm. Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn chỉ trả tiền bồi thường bảo hiểm cho người thụ hưởng (vợ, chồng hoặc con cái) khi bạn gặp rủ ro như bệnh tật, thương tật, hay các trường hợp dẫn đến tử vong trong thời gian hiệu lực của hợp đồng. Khi hợp đồng hết hạn, hoặc bạn không trả tiền phí bảo hiểm (bảo phí) đều đặn thì công ty bảo hiểm sẽ không bồi thường.
các loại bảo hiểm nhân thọ
hiểu về các loại bảo hiểm nhân thọ để có sự lựa chọn đúng

Loại sản phẩm này phù hợp với đối tượng là bố, mẹ muốn bảo đảm tài chính cho con cái, mà không được xem là khoản đầu tư vì bồi thường tai nạn, bệnh tật là thứ duy nhất nhận được từ bảo hiểm y tế có kỳ hạn. Nếu bạn có mục tiêu đảm bảo sự an toàn cho người thân trong một giai đoạn và muốn linh động thay đổi kế hoạch bảo hiểm trong tương lai thì loại hình này sẽ là lựa chọn phù hợp do có kỳ hạn theo y muốn, phí bảo hiểm thường thấp nhất trong các loại hình bảo hiểm nhân thọ.

Bạn có thể gia hạn hợp đồng khi thời hạn bảo hiểm kết thúc, hoặc chuyển đổi sang loại hình bảo hiểm nhân thọ trọn đời, nhưng nên lưu ý mỗi lần tái ký hợp đồng thì bảo phí phải nộp của bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn sẽ gia tăng, do sự thay đổi tuổi tác, sức khoẻ, nghề nghiệp…

Bảo hiểm nhân thọ trọn đời

Bảo hiểm nhân thọ trọn đời lại bảo vệ bạn kể từ ngày bắt đầu mua bảo hiểm cho đến khi người được bảo hiểm qua đời. Trong thời hạn hợp đồng, công ty bảo hiểm sẽ chi trả tiền bảo hiểm nếu khách hàng gặp chuyện rủi ro. Ngoài ra, loại bảo hiểm này còn có thể được xem là hình thức tiết kiệm trong trường hợp khách hàng vẫn khoẻ mạnh khi đến thời hạn đáo hạn (thông thường 90-95 tuổi). Bảo phí của bảo hiểm nhân thọ trọn đời thường cao hơn bảo hiểm có thời hạn, do chi phí khai thác ban đầu thường cao (chi phí thẩm định, xét nghiệm y khoa, thực hiện và in ấn hợp đồng…).

Tuy nhiên, loại hình này có đủ điều kiện để hưởng tiền chia lời (bảo tức) hàng năm và có giá trị hoàn lại khi bạn đóng đủ bảo phí sau một thời gian quy định (thông thường hai đến ba năm tùy quy định công ty). Giá trị hoàn lại là số tiền mà bạn sẽ nhận lại khi có yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng trong thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực. Khi bạn có nhu cầu tài chính gấp, bạn có thể vay tiền từ công ty bảo hiểm bằng cách thế chấp hợp đồng bảo hiểm để được vay một số tiền theo tỷ lệ % nhất định của giá trị hoàn lại.

Lưu ý, trong hai năm đầu, hợp đồng bảo hiểm của bạn chưa có giá trị hoàn lại và trong những năm tiếp theo giá trị hoàn lại cũng thường nhỏ hơn so với số phí đóng vào. Giá trị này sẽ tăng theo thời gian có hiệu lực của hợp đồng.

Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp 

Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp là hình thức bảo hiểm nhân thọ kết hợp với tiết kiệm. Loại sản phẩm này còn có chức năng bảo vệ gia đình bạn. Toàn bộ số tiền bảo hiểm cộng với bảo tức và lãi tích lũy sẽ được thanh toán như một khoản bồi thường, nếu chẳng may người được bảo hiểm qua đời trước khi hợp đồng đáo hạn. Ngoài việc đáp ứng nhu cầu bảo vệ, bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp còn là hình thức tiết kiệm lâu dài.

Ngay từ khi bắt đầu mua các loại hình bảo hiểm nhân thọ, bạn có thể xác định giá trị bảo hiểm là khoản tiền tiết kiệm mà bạn muốn sở hữu trong tương lai. Bằng cách đóng bảo hiểm theo định kỳ, bạn sẽ nhận khoản tiết kiệm tương đương với 100% số tiền bảo hiểm cộng với bảo tức và lãi tích lũy sau khi hợp đồng hết hạn, để thực hiện các mục tiêu tài chính như giáo dục, hưu trí... Các bậc phụ huynh rất quan tâm đến loại hình này do vừa có thể bảo đảm cho cuộc sống con cái, nếu có rủi ro xảy ra cho người được bảo hiểm là bố mẹ, vừa có thể tích luỹ để hỗ trợ các mục tiêu tài chính trong tương lai như cho con đi du học nước ngoài, giúp vốn để khởi nghiệp kinh doanh…

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC




Thị trường bao hiem viet nam những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, các sản phẩm bảo hiểm ngày càng đa dạng, chất lượng dịch vụ được nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên, sự phát triển thường bao giờ cũng kéo theo nhiều điều bất cập, đòi hỏi các công ty bảo hiểm phải có những chiến lược cụ thể để tồn tại và phát triển.


Tổng quan thị trường bảo hiểm Việt Nam


 Việt Nam sau 15 năm mở cửa thị trường, nền kinh tế có những biến chuyển mạnh mẽ. Thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng cũng ngày càng được mở rộng với sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế vào việc kinh doanh dịch vụ bảo hiểm. Tính đến nay, Việt Nam đã có 28 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 11 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động. Ngoài ra còn có sự hiện diện của hơn 33 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm và công ty môi giới bảo hiểm nước ngoài.
Rất nhiều loại sản phẩm bảo hiểm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ liên quan tới bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm… đã được công ty triển khai cung cấp cho khách hàng đáp ứng phần nào nhu cầu phong phú, đa dạng của người tham gia bảo hiểm và tạo được sự lựa chọn mang tính cạnh tranh cho khách hàng.
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của thị trường bao hiem viet nam, nhất là trong thời gian 5 năm gần đây tăng khoảng 22%, (theo báo cáo đánh giá của Hiệp hội bao hiem việt nam) đã cho thấy thế mạnh và bước đột phá lớn của ngành bảo hiểm Việt Nam. Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng mạnh thông qua vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ làm cho khả năng thanh toán và mức giữ lại của từng doanh nghiệp bảo hiểm nâng lên rõ rệt, tăng khả năng nhận tái bảo hiểm từ đó tạo ra nguồn vốn lớn để đầu tư lại cho nền kinh tế quốc dân.
Hoạt động đầu tư của các Doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng khẳng định vai trò của mình. Đây thực sự là một kênh huy động vốn quan trọng, phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cơ cấu vốn đầu tư đã chuyển mạnh từ đầu tư ngắn hạn và chủ yếu là gửi tại các tổ chức tín dụng nay chuyển sang đầu tư dài hạn theo các danh mục đầu tư như: mua trái phiếu chính phủ, đầu tư trực tiếp các kết cấu hạ tầng, phát triển sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống….
Song song cùng với sự phát triển về số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm cũng như sự mở rộng quy mô hoạt động, số lượng người làm việc trong ngành bảo hiểm cũng tăng lên đáng kể, tạo công ăn việc làm cho hơn 14.000 cán bộ, nhân viên và trên 140.000 đại lý bảo hiểm.

Những yếu tố tạo đà cho sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam


 Có rất nhiều yếu tố dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm Việt Nam những năm gần đây. Đó là do sự ổn định về chính trị, kinh tế cũng như chính sách mở cửa làm cho Việt Nam trở thành thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài từ đó làm gia tăng và thu hút nhiều hơn vốn đầu tư phục vụ phát triển kinh tế. Thêm nữa, Chính phủ đã có những giải pháp thích hợp giúp nền kinh tế nước nhà vượt qua những bước thăng trầm của cuộc khủng hoảng kinh tế, tạo điều kiện cho thu nhập của người dân được cải thiện từ đó thúc đẩy nhu cầu bảo hiểm. Môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, tạo ra hành lang vững chắc cho các doanh nghiệp tự do hoạt động theo khuôn khổ pháp luật; đặc biệt thị trường tài chính Việt Nam phát triển không ngừng với sự tham gia của các tổ chức tài chính – tín dụng trong và ngoài nước đã tác động không nhỏ tới thị trường bảo hiểm nói riêng.
Mặt khác, do tính chất khắc nghiệt của việc cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc các công ty bảo hiểm phải chủ động xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp, mở rộng mạng lưới phân phối và điều quan trọng là đánh thức nhu cầu bảo hiểm từ người dân thông qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ giám định và giải quyết bồi thường. Ngày nay, bảo hiểm không còn là từ quá xa lạ với cộng đồng xã hội. Người dân đã bắt đầu nhận thức đầy đủ vai trò và tầm quan trọng của bảo hiểm đối với cuộc sống cộng đồng và cuộc sống cá nhân. Chính sự tương tác này đã làm cho “miếng bánh” thị phần bảo hiểm được mở rộng chứ không bị thu hẹp, co cụm như thời gian trước đó.

Động thái của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam


Trong thời gian tới, giai đoạn từ 2010-2015, thị trường bao hiem viet nam vẫn sẽ tiếp tục phát triển và biến chuyển không ngừng. Điều đó mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp bao hiem viet nam. Gần đây việc đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và đầu tư trong nước phát triển nhanh chóng, kéo theo ngành bảo hiểm cũng phát triển, nhất là đầu tư ngành nghề mới, công nghệ cao như đóng tàu, xây dựng đường tàu điện ngầm, xây dựng ngành điện tử, công nghệ thông tin, xây dựng nhà máy lọc dầu, điện nguyên tử, vệ tinh, sản xuất linh kiện máy bay… Đây là tiềm năng cho bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm trách nhiệm phát triển.
Xã hội phát triển, lộ trình cổ phần hóa là điều tất yếu. Chế độ sở hữu tư nhân buộc chủ doanh nghiệp muốn bảo toàn vốn và tài sản trước mọi rủi ro phải nghĩ tới nhu cầu cần được bảo hiểm. Pháp luật ngày càng hoàn thiện và mang tính tương thích với nhau nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, của DN ngày một tốt hơn cũng khiến nhu cầu bảo hiểm phát sinh như: bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bác sĩ, luật sư, tư vấn thiết kế…; bảo hiểm tài sản; bảo hiểm rủi ro tài chính; bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm của các tổ chức sản xuất, kinh doanh; bảo hiểm trách nhiệm dân sự của các chủ doanh nghiệp… Luật KDbảo hiểm sẽ được sửa đổi, bổ sung, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy tính chủ động, sáng tạo của DNbảo hiểm, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia bảo hiểm là môi trường thuận lợi để thị trường bảo hiểm phát triển. Tầng lớp dân cư có thu nhập cao ngày càng đông đảo, bao gồm giới chủ DN tư nhân, các chuyên gia giỏi trong DNVN và DN có vốn đầu tư nước ngoài, các chủ hộ kinh doanh, các chủ trang trại đều có nhu cầu bảo hiểm Nhân thọ cho mình và người thân. Bên cạnh đó cũng phải kể đến công tác tuyên truyền của ngành bảo hiểm ngày một rộng rãi khiến nhận thức của người dân về bảo hiểm cũng thay đổi.

Thuận lợi thì nhiều song khó khăn vì thế cũng không ít. Do số lượng các DN bảo hiểm được cấp phép hoạt động ngày một gia tăng. Các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nếu đủ điều kiện, thạo luật định đều có quyền xin phép thành lập DNbảo hiểm, trong đó có các DNbảo hiểm nước ngoài theo đúng cam kết WTO. Điều này làm cho môi trường bảo hiểm vốn đã có sự cạnh tranh gay gắt nay càng gay gắt hơn, đặc biệt nguồn nhân lực luôn bị xáo trộn bởi sự trèo kéo của các DN bảo hiểm mới.
DN bảo hiểm hoạt động ở nước ngoài được cung cấp một số sản phẩm bảo hiểm qua biên giới (vào Việt Nam): Đây là điều đáng lo ngại trong cuộc cạnh tranh không cân sức đối với các DN bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam (DNVN, liên doanh, 100% vốn nước ngoài). Trước hết, họ không thể biết được thông tin về đối thủ cạnh tranh của họ (DN bảo hiểm đang hoạt động ở nước ngoài) cụ thể là ai đang bán sản phẩm bảo hiểm vào Việt Nam. Thứ hai, vũ khí của đối thủ đang sử dụng là loại gì không được biết rõ: đơn bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, phí bảo hiểm như thế nào? Thứ ba, DN bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam phải đóng thuế cho ngân sách nhà nước như thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế môn bài, thuế sử dụng đất… để hoạt động kinh doanh có doanh thu từ Việt Nam, trong khi đó đối thủ không bị đóng góp các khoản thuế trên. Trong một cuộc chiến, “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”. DN bảo hiểm đang hoạt động ở nước ngoài biết rất rõ DNbảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam, song DN bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam lại không biết gì về DN bảo hiểm đang hoạt động tại nước ngoài. Đây thực sự là khó khăn và thách thức lớn.

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013

Các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam sau WTO


Các giải pháp 

Xây dựng một hàng rào kỹ thuật về tiêu chuẩn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm(DNBH) và  hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Đây sẽ là một sự sang lọc cần thiết hợp lý không vi phạm WTO nhằm lựa chọn tốt nhất các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước có nguyện vọng thành lập DNBH hoạt động tại VN lâu dài và đóng góp cho sự phát triển thị trường bảo hiểm. Những tiêu chuẩn cơ bản bao gồm:
Lịch sử và kinh nghiệm tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm của người tham gia thành lập,
Dự kiến các sản phẩm bảo hiểm Việt Nam đưa ra thị trường phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế xã hội, không tạo ra cạnh tranh gay gắt và góp phần phát triển thị trường bảo hiểm,
Có bộ máy tổ chức lãnh đạo điều hành và nghiệp vụ bảo hiểm năng lực thể hiện ở kinh nghiệm và bằng cấp của người đảm nhiệm từng chức vụ,
Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu triển khai phát triển sản phẩm bảo hiểm, quản lý giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm,
Có nguồn vốn chủ sở hữu lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định để đảm bảo kinh doanh bảo hiểm tại VN lâu dài, tạo điều kiện đầu tư công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển và đảm bảo biên khả năng thanh toán cho khách hàng.
Hoàn thiện từng bước luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn phù hợp với cam kết WTO, phù hợp với chuẩn mực quốc tế quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Chúng ta đã tiến hành sửa đổi một số Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật kinh doanh bảo hiểm và ban hành NĐ 45, NĐ 46 (thay thế NĐ 42, NĐ 43) ngày 27/3/2007, Thông tư 155, Thông tư 156 (thay thế TT 98, 99) ngày 20/12/2007, QĐ 96 của Bộ Tài chính ngày 19/11/2007 ban hành Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung và QĐ 102 ngày 14/12/2007 ban hành Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị. QĐ 23 của Bộ Tài chính ngày 9/4/2007 ban hành Quy tắc biểu phí BHBB TNDS chủ xe cơ giới, QĐ 28 Bộ Tài chính ngày 24/4/2007 ban hành Quy tắc biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. Bộ Tài chính dang tiến hành sửa đổi bổ sung NĐ 115 về chế độ BHBB TNDS chủ xe cơ giới, NĐ 118 về xử phạt hành chính trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Các văn bản là cơ sở để tiến tới sửa đổi Luật kinh doanh bao hiem Viet Nam vào năm 2009. NĐ 45, NĐ 46, TT 155, TT 156 đã tạo ra được rào cản kỹ thuật để sang lọc các DNBH muốn được thành lập và hoạt đọng như tăng vốn pháp dịnh từ 70 tỉ lên 300 tỉ đối với doanh nghiệp phi nhân thọ, 140 tỉ đồng lên 600 tỉ đồng đối với nhân thọ, tổ chức nước ngoài đứng ra thành lập DNBH phải có trên 10 năm hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tổng tài sản trển 2 (hai) tỉ USD, quy định về năng lực  quản lý và chuyên môn cho các chức danh chủ tịch và ủy viên Hội đồng quản trị, Giám đốc và Phó giám đốc chi nhành và trước các phòng ban, điều kiện mở thêm chi nhánh và phòng kinh doanh. Tiến tới đén năm 2010 sửa đổi Luật kinh doanh bao hiem Viet Nam phù hợp với tiêu chuẩn, chuẩn mực quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh bao hiểm và bảo vệ quyền lợi ích khách hàng ngày một tốt hơn.
Hình thành bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đủ mạnh để thực hiện việc hậu kiểm đạt kết quả cao.
Trước hết cần sắp xếp lại bộ máy tổ chức Vụ Quản lý Bảo hiểm – Bộ Tài chính, nâng cấp thành Cục Quản lý Bảo hiểm. Trong đó, có bộ phận Thanh tra Bảo hiểm có quyền ra quyết định xử phạt những vi phạm trong hoạt động KDBH, bộ phận nghiên cứu định hướng phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong từng giai đoạn làm cơ sở cấp phép thành lập DNBH và ban hành các văn bản pháp quy.
Thứ hai là cần thành lập Cơ quan giám sát các dịch vụ tài chính trực thuộc chính phủ. Cơ quan này có chức năng tiếp nhận báo cáo hoạt động, kiểm tra xử phạt các hoạt động KDBH, chứng khoán, cho thuê tài chính, đầu tư tài chính, ngân hàng, tín dụng. Việc kiểm soát liên ngành sẽ không cho phép tạo kẽ hở dấu rủi ro khiếm khuyết của ngành này đến khi phát hiện ra sẽ kéo theo  sự ảnh hưởng của ngành khác như ngân hàng cho vay quá nhiều vào chứng khoán và bất động sản làm tăng trưởng bong bóng của 2 ngành này đến khi bất động sản đóng băng, chứng khoán giảm giá ảnh hưởng đến sự suy sụp của ngân hàng, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác.
Cần có sự biến đổi về chất của các DNBH nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng, phù hợp với mô hình phát triển DNBH theo chuẩn mực quốc tế.
Trước hết, phải tập trung vào công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu quản lý BH từ khâu khai thác, theo dõi hợp đồng, khách hàng, tiếp nhận thông tin từ khách hàng, xử lý sự cố thiên tai, tai nạn, giám định bồi thường, tính phí, đánh giá rủi ro. Các DNBH trước đây đã đầu tư nhiều vào công nghệ thông tin nhưng thiếu đồng bộ nên ít nhiều đã có thất bại hoặc hiệu quả ứng dụng điều hành không cao. Con đường ngắn nhất là từng DNBHVN lựa chọn đối tác chiến lược để tiếp thu kinh nghiệm, năng lực quản lý điều hành DN cũng như tiếp thu những phần mềm quản lý điều hành của họ mang tính hệ thống và thực tiễn ứng dụng hiệu quả cao.
Thứ hai là tập trung cho công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực mang tính hệ thống, bài bản với những nội dung, chương trình đào tạo chuẩn mực quốc tế thay cho lối đào tạo truyền bá kinh nghiệm, kiến thức của người đi trước dạy bảo người đi sau. Đối với các DNBH Phi nhân thọ cần từng bước tăng dần tỉ trọng khai thác BH qua khâu trung gian là môi giới và đại lý BH, tinh giảm biên chế đội ngũ cán bộ khai thác trước đây để đào tạo họ thành những cán bộ quản lý BH giỏi, nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm, mở rộng dịch vụ chăm sóc khách hàng ngày một tốt hơn. Ngoài ra, các DNBH cả nhân thọ và phi nhân thọ cần có những chương trình tuyển dụng, đào tạo, sử dụng chế độ đãi ngộ thích hợp cho những đại lý BH từ lúc mới tuyển dụng đến bước thăng tiến sau này sao cho có chất lượng và đảm bảo thu nhập ngày càng cao, tạo ra đội ngũ BH chuyên nghiệp, chuyên tâm với nghề, cống hiến cho DN.
Thứ ba là cần tạo ra thế mạnh hơn hẳn của DNBHVN về địa lý, văn hóa, pháp luật để cạnh tranh với các DNBH nước ngoài không hoạt động tại VN.
Thế mạnh địa lý tạo cơ hội cho DNBH tiếp cận trực tiếp với khách hàng, đầu tư mở rộng các dịch vụ gia tăng cho khách hàng (như khám bệnh điều trị tại bệnh viện bác sĩ nổi tiếng VN, bảo dưỡng xe, chữa xe không thuộc tai nạn bảo hiểm được giảm giá…) và giải quyết việc giám định cũng như bồi thường nhanh nhất, trực tiếp tới khách hàng.
Thế mạnh về văn hóa tạo điều kiện cho các DNBH hiểu biết được mục đích, nhu cầu, mong muốn của khách hàng tiềm năng trước khi lựa chọn sản phẩm BH và DNBH để đáp ứng như: phương pháp tiếp cận khách hàng, cách thức tuyên truyền vận động khách hàng mua BH, nhu cầu của khách hàng về sản phẩm BH để có thể mở rộng phạm vi BH hoặc đưa ra sản phẩm BH mới, những khó khăn vướng mắc mà khách hàng cần DNBH cùng tháo gỡ…
Thế mạnh về pháp luật là điều quan trọng nhất vì người được BH sẽ được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước pháp luật VN. Hồ sơ và thủ tục đòi bồi thường, biên bản giám định, chứng từ chứng minh thiệt hại dễ dàng thực hiện tại VN và được luật pháp VN công nhận. Nếu có gì không thỏa thuận được khách hàng có thể kiện DNBH ra Tòa án VN. Đây là lợi thế hơn hẳn. Nếu một số khách hàng tham gia BH với DNBH đang hoạt động tại nước ngoài có thể họ yêu cầu chứng thu giám định tổn thất tại một công ty giám định có uy tín quốc tế không công nhận những kết quả của cơ sở y tế, cơ quan công an, chính quyền địa phương như các DNBHVN thường làm. Mặt khác, bộ hồ sơ bồi thường nếu có một loại giấy tờ nào đó do sơ suất về ngày tháng năm, số lượng, đơn giá, trị giá, người lập không phù hợp với giấy tờ còn lại có thể bị từ chối bồi thường mà không được làm lại. Giải quyết tranh chấp với DNBH đang hoạt động ở nước ngoài là rất khó khăn về ngôn ngữ, luật sư, nguồn luật và Tòa đứng ra xét xử nên người được BH sẽ khó có thể theo đuổi vụ kiện hoặc thắng kiện.
Các DNBHVN cần có sự hợp tác hơn nữa
Nói đến thị trường tất yếu phải có sự cạnh tranh. Cạnh tranh không phải là để chia rẽ, phân hóa các DNBH mà trong cạnh tranh sẽ tạo tiền đề để các DNBH tiến tới hợp tác song phương, đa phương thậm chí tiến tới việc mua bán, hợp nhất, sáp nhập DNBH để tạo nên một sức mạnh cạnh tranh tốt hơn. Khi vốn pháp định tăng (300 tỉ với DNBH phi nhân thọ, 600 tỉ với DNBH nhân thọ) vốn chủ sở hữu tăng (các DNBH tăng vốn) và số lượng DNBH trên thị trường VN ngày càng đông, với khả năng giữ lại lớn (10% vốn chủ sở hữu) tất yếu các DNBH phải tái BH lẫn nhau, tiến tới không phải tái bảo hiểm ra nước ngoài. Vì vậy, sẽ có sự thống nhất về sản phẩm BH (Quy tắc điều khoản, Biểu phí) và sẽ có sự hợp tác với nhau trong tái bảo hiểm và đồng bảo hiểm. Ngoài ra, các DNBH càng cần hợp tác với nhau trong việc xây dựng dữ liệu quản lý BH đánh giá rủi ro, phân tích rủi ro, cung cấp thông tin về bồi thường, nguyên nhân tổn thất, phòng chống trục lợi BH.

Nâng cao vai trò của Hiệp hội Bao hiem Viet Nam và mạnh dạn giao dần cho Hiệp hội thực hiện các dịch vụ hành chính công

Sự hợp tác giữa các DNBH, xây dựng ngôi nhà chung mang tiếng nói chung, xây dựng chế độ tự quản của các DNBH tất yếu được xoay quanh trục là vai trò của HHBHVN. Thời gian qua, HHBH đã phát huy được vai trò trong tuyên truyền về BH; tư vấn, thẩm định đóng góp ý kiến xây dựng văn bản pháp quy; tổng hợp cung cấp thông tin đánh giá tình hình thị trường BHVN; tổ chức đào tạo tập huấn và hội thảo, xây dựng chế độ hợp tác và tự quản; mở rộng mối quan hệ hợp tác với các tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước. Song, thực tế, không ít DNBH chưa tôn trọng Hiệp hội. Các Quy tắc ứng xử, Quy chế, Thỏa thuận hợp tác luôn bị các DNBH vi phạm mà chưa có chế tài xử phạt. Thực chất, hoạt động của HH vẫn sống nhờ 100% vào kinh phí đóng từ DNBH. Để HH có tiếng nói khách quan, có thể phát huy vai trò của mình thì cần từng bước tăng thu nhập của HH, giảm dần sự đóng góp kinh phí từ các DNBH. Đó chính là giao cho HHBH thực hiện các công việc hành chính công. Trước mắt, có thể giao cho HHBH là nơi duy nhất tổ chức kiểm tra cấp chứng chỉ đại lý BH Nhân thọ, Phi nhân thọ. Làm được việc này sẽ nâng cao rõ rệt chất lượng đào tạo, tuyển dụng đại lý, đồng thời ngăn chặn được việc tạo ra đội ngũ đại lý BH khống, chi hoa hồng khống cho đại lý khi DNBH vừa là người đào tạo cấp chứng chỉ vừa sử dụng và chi hoa hồng đại lý. Sau đó, HHBH sẽ là người được quyền thu các dịch vụ tư vấn phản biện đóng góp ý kiến văn bản pháp quy, thu từ dịch vụ duy trì hợp đồng và cung cấp thông tin từ phần mềm quản lý dữ liệu quản lý BH thống nhất, thu từ dịch vụ đào tạo.

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Thị trường Bảo hiểm Việt Nam sau khi gia nhập WTO: Ba năm nhìn lại


Hơn 03 năm trở thành thành viên chính thức của WTO là một thời đoạn đặc biệt đối với ngành bảo hiểm Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Được đánh giá là một thị trường đầy triển vọng bởi Việt Nam có tới hơn 85 triệu dân, nhưng chỉ có chưa đầy 10% số người Việt Nam mua bảo hiểm và chi phí cho bảo hiểm mới chiếm khoảng 2% GDP. Trong khi ở các nước Châu Á, tỷ lệ dân số mua bảo hiểm là khoảng 20 – 40%  và ở các quốc gia phát triển, chi phí cho bảo hiểm chiếm khoảng 10% – 15% GDP. Rõ ràng, “room” cho phát triển thị trường bảo hiểm ở Việt Nam vẫn còn rất lớn.

1. Những kết quả đạt được

Là một ngành mới nhưng bảo hiểm Việt Nam đã có tốc độ phát triển khá nhanh, đặc biệt kể từ sau khi chúng ta trở thành thành viên chính thức của WTO năm 2007. Ý thức về mua bảo hiểm của người dân tăng lên cộng với sự tham gia ngày càng nhiều của các công ty bảo hiểm nước ngoài đã đẩy nhanh tốc độ phát triển của thị trường nhưng cũng khiến mức độ cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, song lại khiến các công ty bảo hiểm tại Việt Nam ngày càng quan tâm và chú trọng hơn tới việc nâng cao năng lực tài chính, chất lượng đội ngũ cán bộ bảo hiểm, phát triển công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hơn 03 năm gia nhập WTO, ngành bảo hiểm Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ sau:
- Một là, số lượng các công ty bảo hiểm tại Việt Nam tăng nhanh qua các năm.
Năm 2006, cả nước mới có 37 các công ty bảo hiểm tại Việt Namnhưng đến tháng 06/2010, con số này đã lên tới 50 các công ty bảo hiểm tại Việt Nam với đầy đủ các loại hình sở hữu (DNNN, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty liên doanh). Nếu tính cả 02 các công ty bảo hiểm tại Việt Nam đã được Bộ Tài chính đã chấp nhận về nguyên tắc là Công ty bảo hiểm phi nhân thọ Cathay Việt Nam và Công ty bảo hiểm nhân thọ Fubon Việt Nam thì tổng cộng đã là 52 các công ty bảo hiểm tại Việt Nam.
Bảng 1: Số lượng các công ty bảo hiểm tại Việt Nam
alt


(Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)
Như vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bảo hiểm của Việt Nam cũng có những bước tiến đáng kể. Số lượng các công ty bảo hiểm tại Việt Namtăng lên cũng đồng nghĩa với mức độ cạnh tranh tăng lên, và nhờ đó, chất lượng các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm ngày càng hoàn thiện đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của người dân.
- Hai là, quy mô thị trường bảo hiểm ngày càng lớn
Cùng với sự tăng trưởng của cả nền kinh tế, sự gia tăng về số lượng các công ty bảo hiểm tại Việt Namvà sự thay đổi theo hướng tích cực trong nhận thức của người dân, doanh thu phí bảo hiểm của toàn ngành cũng tăng đều qua các năm với tốc độ tăng trung bình khoảng 20%/năm, quy mô thị trường ngày càng được mở rộng.
Bảng 2: Quy mô thị trường bảo hiểm:
alt
(Nguồn: Báo cáo của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và Báo cáo thường niên của Bộ Tài chính )
Tính riêng từ đầu năm 2010 đến nay, cùng với đà phục hồi của nền kinh tế, thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, doanh thu đạt 8.241 tỷ đồng, tăng trưởng 28%. Hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm đều có tốc độ tăng trưởng khá, trong đó bảo hiểm cháy tăng 125%, bảo hiểm nông nghiệp 109%, bảo hiểm xây dựng lắp đặt 68%. Tại thị trường bảo hiểm nhân thọ, số lượng hợp đồng khai thác mới tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng mức trách nhiệm các công ty bảo hiểm nhân thọ đang nắm giữ là 323,56 nghìn tỷ đồng, tăng 33%; tổng phí khai thác mới đạt 1.544 tỷ đồng, tăng 27%. Nhiều các công ty bảo hiểm tại Việt Nam có doanh thu khai thác mới lên tới hàng trăm tỷ đồng. Tổng số tiền các công ty bảo hiểm tại Việt Namchi trả quyền lợi cho khách hàng lên tới 1.546 tỷ đồng( ).
- Ba là, khâu giải quyết sau bán hàng đã được các công ty bảo hiểm tại Việt Nam quan tâm chú trọng hơn.                       
bảo hiểm việt nam
Đây có thể coi là một thay đổi đáng kể của các công ty bảo hiểm tại Việt Nam bởi nó thể hiện sự thay đổi trong tư duy của các công ty bảo hiểm Việt Nam. Sản phẩm bảo hiểm, dù tự thân nó đã có những điểm ưu việt, nhưng chỉ thế thôi thì chưa đủ để khách hàng thực sự quan tâm. Năng lực chuyên môn, tính chuyên nghiệp và lương tâm nghề nghiệp của người tư vấn, các dịch vụ trước và sau bán hàng của các công ty bảo hiểm tại Việt Nam cũng là những yếu tố quan trọng để họ quyết định có ký vào các hợp đồng bảo hiểm hay không. Khách hàng đã được đặt lên vị trí cao nhất và việc xây dựng mối liên hệ khăng khít với khách hàng không chỉ thông qua các hoạt động chăm sóc khách hàng nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách hàng tìm hiểu thông tin, thắc mắc và khiếu nại, cũng như góp ý đều được nhanh chóng đáp ứng một cách đầy đủ và thuận lợi nhất, đồng thời trợ giúp và tư vấn để khách hàng có thể sử dụng một cách có hiệu qua các sản phẩm bảo hiểm khác nhau đã được các công ty bảo hiểm tại Việt Nam thực sự quan tâm. Sự coi trọng khách hàng còn thể hiện ở việc nhanh chóng hoàn tất các thủ tục bồi thường cho khách hàng trong thời gian ngắn nhất có thể.
- Bốn là, các công ty bảo hiểm tại Việt Nam đã từng bước đa dạng hóa các sản phẩm cũng như kênh phân phối trên cơ sở xác định rõ thị trường mục tiêu của mình.
Về sản phẩm bảo hiểm: bên cạnh các sản phẩm truyền thống, các công ty bảo hiểm tại Việt Namđang nỗ lực để thiết kế thêm các sản phẩm mới, cả sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng như các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, các sản phẩm bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cao cấp với mức trách nhiệm cao, các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm rủi ro tài chính, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm liên kết chung (Univeral Life), bảo hiểm liên kết đơn vị (unit Link), bảo hiểm vi mô, bảo hiểm với số tiền bảo hiểm lớn, bảo hiểm với số tiền bảo hiểm thấp… Tính chung hiện nay, trên thị trường có khoảng hơn 500 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ và hơn 200 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phục vụ cho các đối tượng khách hàng khác nhau.
Về kênh phân phối: cùng với các kênh phân phối chủ yếu là thông qua các đại lý, các kênh chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp, các công ty bảo hiểm tại Việt Namcũng đang triển khai. các công ty bảo hiểm tại Việt Nambước đầu đã hình thành và triển khai một số kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm trực tuyến (qua mạng, điện thoại…).
Bảng 3: Các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm chủ yếu ở Việt Nam
alt
- Năm là, các công ty bảo hiểm tại Việt Nam đã chủ động nâng cao năng lực để có thể cạnh tranh bình đẳng với nhau và với các công ty bảo hiểm tại Việt Namnước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ.
Các các công ty bảo hiểm tại Việt Nam đều đã chủ động rà soát sửa đổi bổ sung quy tắc điều khoản, biểu phí, phát triển sản phẩm mới mang tính đặc thù, hoàn thiện quy trình quản lý nghiệp vụ, quy trình thủ tục giải quyết bồi thường nhằm phục vụ khách hàng tốt nhất, mà vẫn đảm bảo quản lý chặt chẽ từ khâu khai thác đến giải quyết bồi thường.
Doanh thu phí bảo hiểm gốc trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ 6 tháng năm 2010
Để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, các công ty bảo hiểm tại Việt Nam đã tăng cường việc giám sát chất lượng phục vụ, mở rộng hệ thống đại lý, liên doanh liên kết, tạo ra nhiều sản phẩm mới… nhằm giữ vững và từng bước mở rộng thị phần. Năm 2007, mới có hơn 43.000 đại lý bảo hiểm nhân thọ thì đến cuối năm 2009, con số này đã tăng gấp hơn 2 lần lên gần 95.000 đại lý.

- Sáu là, hành lang pháp lý về kinh doanh bảo hiểm đã và đang được hoàn thiện nhằm đáp ứng với yêu cầu thực tiễn và phù hợp với các cam kết hội nhập.
Trước những yêu cầu cấp bách về thực tiễn phát triển của ngành dịch vụ bảo hiểm và những đòi hỏi ngày càng cao của hội nhập quốc tế, từ năm 2007 đến nay, hàng loạt các chính sách đã được ban hành( ), từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường này theo hướng rõ ràng, minh bạch, tăng cường thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các hình vi vi phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm. Chính phủ cũng quyết định chuyển Vụ bảo hiểm thành Cục quản lý và giám sát bảo hiểm nhằm nâng cao vai trò quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm.

2. Những vấn đề còn tồn tại

- Một là, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty bảo hiểm tại Việt Nam vẫn tồn tại như giảm phí, mở rộng điều kiện bảo hiểm, tăng mức khấu trừ… Công tác giải quyết bồi thường đôi khi còn phức tạp, gây khó khăn cho khách hàng. Tình trạng trục lợi bảo hiểm diễn ra ngày càng nhiều với quy mô ngày càng lớn( ) nên hiệu quả kinh doanh bảo hiểm gốc không cao. Mặt dù các công ty bảo hiểm Việt Nam có được mức tăng trưởng nhanh về mặt doanh thu nhưng chưa thực sự bền vững, chưa chú trọng đến chất luợng và hiệu quả kinh doanh. Thêm vào đó, các công ty bảo hiểm tại Việt Nam vẫn chưa chú trọng công tác khai thác cũng như đánh giá rủi ro, đề phòng hạn chế tổn thất mà phần lớn vẫn chạy theo doanh thu.
Bảng 4: Số tiền bồi thường bảo hiểm các năm:
alt
(Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)
- Hai là, chưa tạo ra những kênh hữu hiệu để tuyên truyền rộng rãi mục đích, ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm khiến phần lớn khách hàng tham gia bảo hiểm đều là do Nhà nước bắt buộc (chẳng hạn như khi vay vốn ngân hàng, xuất nhập khẩu…). Với một thị trường hơn 85 triệu dân như Việt Nam, tiềm năng là không nhỏ nhưng để khai thác được tiềm năng lớn lao này, việc tuyên truyền rộng rãi đến các tổ chức quần chúng nhân dân là một điều cần đặc biệt quan tâm đối với ngành bảo hiểm. Hiện nay, nhiều khách hàng tham gia bảo hiểm mang tính bị động, khi họ gặp rủi ro bản thân họ cũng không biết mình được bồi thường bao nhiêu, từ đó dẫn đến tranh chấp diễn ra khá phổ biến. Chính tình trạng không minh bạch trong các khâu và những yếu kém trong tuyên truyền đã dẫn đến tình trạng hoạt động của thị trường bảo hiểm, trong một chừng mực nhất định, vẫn thiếu tính chuyên nghiệp. Tình trạng này nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình hội nhập sâu rộng của ngành bảo hiểm.

- Ba là, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm và các công ty bảo hiểm tại Việt Nam, vô hình chung đã tạo nên những ảnh hưởng không tốt đến môi trường kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm.   
- Bốn là, các công ty bảo hiểm tại Việt Nam còn thiếu định hướng dài hạn cho hoạt động kinh doanh, chưa đầu tư đúng mực vào công tác quy hoạch đào tạo – tuyển dụng – sử dụng cán bộ, công tác phát triển nghiệp vụ cũng như công tác dự báo thống kê và định phí. Đã có không ít sai phạm trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm bị phát hiện, điển hình là các sai phạm trong quản trị các công ty bảo hiểm Việt Nam, vi phạm các quy định về cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm, thời hạn nộp phí, tái bảo hiểm, chi trả bồi thường và quyền lợi bảo hiểm, hoạt động đầu tư.

3. Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới

Thị trường bảo hiểm muốn phát triển để đủ sức cạnh tranh trong thời gian tới, ngoài những hỗ trợ từ Chính phủ, các ban ngành và Hiệp hội bảo hiểm, quan trọng nhất vẫn là những nỗ lực của bản thân công ty bảo hiểm tại Việt Nam - Thứ nhất, nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ khách hàng
Khách hàng là người quyết định trực tiếp đến lợi nhuận của mọi các công ty bảo hiểm tại Việt Nam, đặc biệt là các công ty bảo hiểm tại Việt Nam cung cấp sản phẩm vô hình như sản phẩm bảo hiểm, vốn chủ yếu kinh doanh dựa trên niềm tin của khách hàng. Chất lượng phục vụ khách hàng có ý nghĩa quyết định đến việc khách hàng có tiếp tục sử dụng sản phẩm nữa hay không. Dịch vụ chăm sóc khách hàng chu đáo sẽ tạo được niềm tin của khách hàng, giúp các công ty bảo hiểm tại Việt Namgiữ được chân khách hàng làm gia tăng số lượng các hợp đồng tái tục khi hết hạn hợp đồng, đặc biệt là với những khách hàng truyền thống, những khách hàng lớn của các công ty bảo hiểm tại Việt Nam. Việc giữ chân một khách hàng cũ có lợi hơn rất nhiều so với việc đi khai thác một khách hàng mới bởi không những tiết kiệm được chi phí khai thác ban đầu, mà khi họ tin tưởng và hài lòng về chất lượng dịch vụ, họ sẽ là “kênh tuyên truyền” hữu hiệu giúp các công ty bảo hiểm tại Việt Nam có thêm những mới. Chất lượng phục vụ khách phải được quan tâm chú trọng từ khâu khai thác, đến khâu giám định và bồi thường.
- Thứ hai, coi trọng công tác đào tạo cán bộ
Con người là trung tâm của mọi sự phát triển, con người vừa là mục đích vừa là động lực cho sự phát triển. Một các công ty bảo hiểm tại Việt Nam muốn có sự phát triển bền vững thì vấn đề cần phải quan tâm hàng đầu là công tác đào tạo và tuyển dụng nguồn nhân lực. Bảo hiểm là ngành kinh doanh dịch vụ đặc biệt, đòi hỏi những nhân viên làm trong lĩnh vực này phải có một trình độ và sự hiểu biết nhất định, có trình độ chuyên môn vững vàng. Thị trường bảo hiểm mới chỉ sôi động và thực sự phát triển trong mấy năm trở lại đây nên lực lượng lao động trong ngành bảo hiểm vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo bậc trung và bậc cao , nên chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác thị trường rộng lớn. Vì vậy, các công ty bảo hiểm tại Việt Nam cần phối hợp với các đơn vị có liên quan (Hiệp hội bảo hiểm, Cục quản lý và giám sát bảo hiểm…) mở các lớp đào tạo cho phù hợp với trình độ đa dạng của cán bộ trong ngành như: Chương trình đào tạo cơ bản, chương trình đào tạo cán bộ chủ chốt để có đội ngũ cán bộ giỏi, chuyên sâu về nghiệp vụ.
- Thứ ba, đa dạng hoá kênh phân phối và sản phẩm bảo hiểm
Hiện nay các công ty bảo hiểm tại Việt Nam chủ yếu phân phối sản phẩm bảo qua ba kênh chủ yếu: qua cán bộ của chính các công ty bảo hiểm đó, qua hệ thống ngân hàng và các công ty cho thuê tài chính và qua đại lý. Bên cạnh đó còn rất nhiều kênh mà các công ty bảo hiểm tại Việt Namcó thể khai thác được. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay thì các công ty bảo hiểm tại Việt Nam có thể mở rộng kênh phân phối qua mạng lưới Internet, với sự phát triển của thương mại điện tử thì việc mua bán các sản phẩm qua mạng không còn xa lạ. Hoàn thiện và phát triển sản phẩm bancassurance bởi đây là một trong những kênh phân phối đầy tiềm năng và hiệu quả.
Mặc dù ngày càng có nhiều người Việt Nam ý thức về tầm quan trọng của bảo hiểm, song không phải ai cũng có thể tham gia một hợp đồng bảo hiểm với mức bồi thường đủ lớn để bù đắp những tổn thất về tài chính cho bản thân và gia đình nếu không may gặp rủi ro, tai nạn trong cuộc sống, nhất là với những người có mức thu nhập trung bình hoặc thấp. Hơn nữa, xã hội ngày càng phát triển thì con người cũng ngày càng quan tâm hơn đến bảo hiểm để tạo ra sự yên tâm, vững vàng về tài chính cho cả gia đình khi những điều không may xảy ra. Vì thế, đa dạng hóa các sản phẩm phục vụ cho nhiều đối tượng mà vẫn hài hòa hóa được các yếu tố từ tài chính, bảo vệ con người và phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội là yêu cầu bắt buộc đối với các công ty bảo hiểm tại Việt Nam nếu muốn duy trì và bảo vệ được thị phần của mình.
- Thứ tư, các công ty bảo hiểm Việt Nam cần tăng cường hợp tác với nhau và xa hơn nữa cần hợp tác với các công ty bảo hiểm Việt Nam lớn từ các nước phát triển.
Nói đến nền kinh tế thị trường tất yếu phải có sự cạnh tranh. Cạnh tranh không phải để chia rẽ, phân hóa các công ty bảo hiểm tại Việt Nam mà cạnh tranh sẽ là tiền đề để các công ty bảo hiểm tại Việt Namtiến tới hợp tác song phương và đa phương để phát huy tổng hợp sức mạnh của nhau. Ngoài ra, các công ty bảo hiểm tại Việt Nam cần hợp tác với nhau trong việc xây dựng dữ liệu quản lý bảo hiểm, đánh giá rủi ro, phân tích rủi ro, cung cấp về thông tin bồi thường, nguyên nhân tổn thất và phòng chống trục lợi bảo hiểm. Mặt khác, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của sự phát triển, do đó cần rất nhiều kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm triển khai cũng như những kiến thức cơ bản cũng như chuyên sâu về bảo hiểm từ các nước phát triển (Mỹ, Anh, Pháp …). Một số các công ty bảo hiểm tại Việt Nam đã chọn đối tác chiến lược là những tập đoàn bảo hiểm, tài chính hàng đầu quốc tế( ) để vừa huy động được nguồn vốn lớn, vừa tiếp thu được kinh nghiệm và công nghệ quản lý tiên tiến. Ngoài ra các công ty bảo hiểm tại Việt Nam cần phải thường xuyên trao đổi, hợp tác với các công ty bảo hiểm nước ngoài, để đưa sản phẩm bảo hiểm vươn xa trên thị trường thế giới, hội nhập cùng nền kinh tế Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực của các công ty bảo hiểm cần và rất cần có những hỗ trợ từ các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm nhằm tạo ra một “sân chơi” bình đẳng hơn, thông thoáng hơn, thuận lợi hơn và an toàn hơn cho các công ty bảo hiểm. Ngoài việc đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong các chính sách, các quy định, tính hiệu quả trong công tác kiểm tra giám sát, xử lý vi phạm, cần nâng cao hơn nữa vai trò và chức năng của Trung tâm đào tạo bảo hiểm thuộc Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) và phát huy hơn nữa vai trò của Hiệp hội bảo hiểm với tư cách là cầu nối thực sự giữa các công ty bảo hiểm tại Việt Namvới các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan giám sát thị trường bảo hiểm và giữa các công ty bảo hiểm tại Việt Namvới nhau cũng như với các phương tiện truyền thông đại chúng, các báo đài lớn có uy tín trong việc phổ biến, tuyên truyền rộng rãi mục đích, tác dụng và vai  trò của bảo hiểm.
Rõ ràng, chúng ta không thể chờ những tác động không mong muốn xảy đến mà cần nắm bắt những cơ hội và hạn chế những thách thức bằng cách tăng cường tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động của chính mình. Chỉ có như vậy, chúng ta mới đảm bảo được sẽ không mất thị phần vào tay các công ty bảo hiểm tại Việt Namnước ngoài khi chúng ta tham gia vào “sân chơi toàn cầu” với “luật chơi” khắt khe hơn và nhiều đối thủ mạnh hơn rất nhiều. So với yêu cầu, thách thức của việc hội nhập quốc tế, ngành bảo hiểm Việt Nam còn nhiều việc cần phải làm, song sự đồng thuận và những nỗ lực quyết tâm cả từ phía Chính phủ lẫn bản thân các công ty bảo hiểm tại Việt Namvà Hiệp hội hội bảo hiểm, hy vọng ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ có những thay đổi mang tính quyết định để phát triển một cách vững chắc trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế .